BỆNH PARKINSON

BỆNH PARKINSON
Mã sản phẩm: BỆNH PARKINSON
Tình trạng: Còn hàng
Số lượng:
 Thêm vào giỏ

BỆNH PARKINSON

 

 

Bệnh Parkinson (hay còn gọi là PD) là một rối loạn thoái hoá của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói, và các chức năng khác.

Bệnh Parkinson thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận động. Nó có đặc điểm cứng cơ, run, tư thế và dáng đi bất thường, chuyển động chậm chạp và trong trường hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức năng vận động vật lý. Các triệu chứng chính xuất hiện tương ứng với sự giảm các kích thích ở vùng vỏ não thuộc phạm vi điều khiển của hạch nền. Thông thường điều này liên quan đến sự giảm hình thành và sản xuất dopamine trong tế bào thần kinh dopaminergic của  não giữa (cụ thể là substantia nigra). Các triệu chứng phụ như có thể xuất hiện rối loạn chức năng nhận thức cấp cao và các vấn đề về ngôn ngữ tinh tế. PD là bệnh mãn tính tự phát, hoặc trong trường hợp thứ cấp, nguyên nhân gây bệnh có thể là do độc tính của một số loại thuốc, chấn thương đầu, hay các rối loạn y tế khác. Căn bệnh này được đặt theo tên tiếng Anh dược sư James Parkinson, ông đã mô tả chi tiết của bệnh trong bài tiểu luận: "An Essay on the Shaking Palsy" (1817).

Đông y gọi bệnh Parkinson là Ma mộc, Tứ chi nhuyễn nhược, Chấn chiến. Giai đoạn cuối cùng của bệnh được xếp vào loại Nuy chứng.

Dấu hiệu

Bệnh Parkinson thường có các dấu hiệu về giảm thiểu chức năng vận động cơ học,   ngoài ra còn có một số triệu chứng khác như rối loạn chức năng tự trị, có vấn đề về nhận thức, mất ngủ.

Triệu chứng 

Triệu chứng về vận động

 

Chữ viết tay của một bệnh nhân Parkinson

Bệnh thường xuất hiện bốn triệu chứng về vận động: run, cứng, chậm chạp (Bradykinesia), và tư thế bất ổn định. Mặc dù khoảng 30% bệnh nhân không xuất hiện run trong thời gian đầu, nhưng đặc điểm này sau đó cũng sẽ bộc phát khi bệnh tiến triển. Triệu chứng cứng người là do cơ bắp và xương bị cứng dần, có thể kèm theo đau khớp. Di chuyển chậm chạp là đặc tính lâm sàng đặc trưng nhất của bệnh Parkinson. Trong giai đoạn cuối, bệnh sẽ xuất hiện các chứng bất ổn định về tư thế dẫn đến mất cân bằng và té ngã.

Triệu chứng về thần kinh

 

Bệnh Parkinson gây ra một số rối loạn trung khu thần kinh, trong đó bao gồm chủ yếu là nhận thức, tâm trạng và các vấn đề hành vi.  Rối loạn nhận thức trong một số trường hợp có thể xảy ra ngay cả trong giai đoạn đầu của bệnh. Một tỷ lệ rất cao người bệnh sẽ có suy giảm nhận thức nhẹ.

Các triệu chứng khác

Ngoài các triệu chứng về nhận thức và vận động, PD có thể làm giảm nhiều chức năng cơ thể khác. Bệnh có thể có các biểu hiện như buồn ngủ ban ngày, rối loạn trong giấc ngủ hoặc mất ngủ. Ngoài ra người bệnh có thể có các triệu chứng như hạ huyết áp, da nhờn và viêm da tiết bã, đổ mồ hôi quá nhiều, tiểu không tự chủ và chức năng tình dục thay đổi, táo bón. PD cũng gây ra các bất thường về mắt như tỷ lệ nháy mắt giảm, dẫn đến kích thích bề mặt mắt, những bất thường trong việc nhìn theo một vật hoặc chuyển mục tiêu nhìn đột ngột và hạn chế trong việc nhìn lên. Thay đổi trong cảm quan bao gồm giảm các cảm giác về mùi, cảm giác đau, dị cảm.

Nguyên nhân của bệnh parkinson

 

 Parkinson là bệnh do các tế bào liềm đen bị thoái hóa nên không sản xuất đủ lượng dopamine cần thiết cho cơ thể.

Liềm đen là một vùng nhỏ của hệ thống não bộ nằm ở vùng thân não. Đây là trung tâm giúp cho việc điều khiển các hoạt động của con người. Các tế bào trong liềm đen sản xuất và giải phóng ra một chất hóa học gọi là dopamin. Dopamin là một chất dẫn truyền thần kinh điều khiển các hoạt động và thăng bằng. Chất này cũng cần thiết cho chức năng chính của hệ thống thần kinh trung uowng. Dopamine còn có chứng năng giúp truyền tin bằng các dấu hiệu điện hóa học từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác.

Vì vậy khi bị bệnh parkinson tức là thiếu lượng dopamine này khiến cơ thể mất điều khiển sự vận động, dẫn tới vận động chậm chạp, rung và co cứng cơ ngoại tháp.

Cho tới nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được nguyên nhân gây bệnh cụ thể. Lâu nay có 2 nguyên nhân chính được chú ý là do môi trường và do yếu tố di truyền.

 Môi trường: sự ảnh hưởng của chất độc trong môi trường sống tăng lên theo thời gian, cuối dùng dẫn tới sự biến đổi gen di truyền của người bệnh. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm ra được chất độc nào là nguyên nhân gây bệnh.

Các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, nguồn nước ăn lộ thiên và công việc đồng áng tiếp xúc trực tiếp với các chất hóa học độc hại từ các loại thuốc này có thể là nguyên nhân gây bệnh tại các vùng nông thôn.

Tuy nhiên, những nguyên nhân này chỉ là những yếu tố đơn lẻ, không thể chắc chắn là yếu tố làm tăng tính chất của bệnh.

   Gen di truyền: Một vài gen được biết là nguyên nhân gây bệnh parkinson nhưng chúng chỉ là nguyên nhân của rất ít các trường hợp bệnh, trong đó có gen quan trọng nhất là parkin. Gen parkin tạo ra một loại protein cũng gọi là parkin, nó giúp cho sự bẻ gãy các protein không hoàn chỉnh bên ngoài các tế bào thần kinh, Khi gen parkin bị biến đổi thì chức năng này bị rối loạn.

Còn một giả thiết nữa về việc các protein không hoàn chỉnh tích lũy lại và góp phần làm chết các tế bào thần kinh.

Nhưng các giả thuyết này chỉ giải thích được cho khoảng dưới 1% tất cả các trường hợp bệnh.

 

Chẩn đoán

Bệnh Parkinson tiến triển chậm. Các triệu chứng ban đầu mờ nhạt, ít được chú ý, thường chỉ run nhẹ ở một bàn tay, cánh tay hay một bên chân.

Người bệnh thường run khi nghỉ ngơi và giảm run khi cử động hoặc làm việc.

Dần dần, bệnh gây ảnh hưởng đến cả hai bên cơ thể, gây cứng, yếu và run cơ, làm người bệnh đi kéo lê chân và lảo đảo, mất thăng bằng.

Khi bệnh phát triển, bệnh nhân đi những bước ngắn, run rẩy và mất khả năng kiểm soát. Bàn tay cũng run liên tục, run nhiều hơn khi nghỉ ngơi và giảm bớt khi vận động.

Run có thể lan đến đầu, làm người bệnh thường có dáng điệu gật gù.

Người bệnh có dáng điệu cứng nhắc, chậm chạp và dần dần trở nên khó khăn ngay cả khi thực hiện những công việc đơn giản trong sinh hoạt thường ngày như ăn uống, tắm rửa, thay quần áo...

Điều trị

 

Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị bệnh Parkinson. Việc điều trị chủ yếu nhắm đến kiểm soát tốt các triệu chứng và làm chậm tiến triển của bệnh.

Levodopa (hay L-dopa) là loại thuốc chính được sử dụng trong điều trị bệnh Parkinson. Tác dụng của thuốc dựa trên cơ chế là khi vào não chất này sẽ được chuyển thành dopamin. Tuy nhiên, khi dùng đơn độc có đến 95% thuốc được cơ thể chuyển hóa thành dopamin trước khi vào được não bộ, do đó gây ra nhiều tác dụng phụ hơn là tác dụng điều trị chính. Để khắc phục nhược điểm này, người ta dùng kết hợp levodopa với carbidopa, giúp tăng thêm lượng levodopa đến não trước khi chuyển thành dopamin. Các loại thuốc kết hợp theo cách này hiện được dùng phổ biến là Sinemet, Atamet... Ngoài ra còn có loại thuốc tương tự kết hợp carbidopa và benserazid được bán với nhãn hiệu Madopar cũng rất có hiệu quả trong điều trị bệnh Parkinson.

Nên bắt đầu với liều L-dopa thấp nhất, 100mg mỗi ngày một lần. Tùy theo sự đáp ứng của bệnh nhân, tăng liều sau nhiều tuần cho đến khi đạt hiệu quả điều trị tốt nhất, có thể đến 400 – 800mg/ngày, chia ra nhiều lần. Lưu ý các tác dụng phụ của thuốc có thể là buồn nôn, nôn, biếng ăn và giảm huyết áp tư thế.

Nếu cần thiết có thể dùng thêm các thuốc chống tiết cholin tổng hợp, chẳng hạn như trihexyphenidyl (Triphenidyl, Artane...), benzhexol... Các thuốc này có tác dụng tốt với những bệnh nhân vừa bị cứng đờ vừa bị run. Liều khởi đầu 2mg, mỗi ngày 2 lần, tăng dần cho đến 5mg, mỗi ngày hai lần. Lưu ý tác dụng phụ của thuốc có thể gây khô miệng, buồn nôn, chóng mặt, táo bón, khó điều tiết mắt, mạch nhanh.

Các trường hợp sau đây nên chuyển bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa hoặc đề nghị điều trị tại bệnh viện:

Bệnh nhân còn trẻ tuổi.

Chẩn đoán không chắc chắn.

Không đáp ứng với điều trị.

Bệnh nhân không chịu được các tác dụng phụ của thuốc.

Điều trị có hiệu quả trong thời gian đầu nhưng sau đó bệnh tiến triển và điều trị không còn mang lại hiệu quả.


Phòng ngừa bằng cách phát hiện các dấu hiệu sớm của bệnh

 

Các dấu hiệu sớm

 

Viện Quốc gia về bệnh Parkinson ở Mỹ đã xác định được 10 dấu hiệu ban đầu của căn bệnh này là: run hoặc lắc, chữ viết nhỏ, khít, mất mùi, rối loạn giấc ngủ, giọng nói yếu ớt, khuôn mặt đơ, táo bón, di chuyển hay đi bộ khó khăn, choáng váng khi thay đổi tư thế, khòm hay gù lưng.

Nếu đã phát hiện bị mắc bệnh Parkinson, thì nên bắt đầu điều trị bằng thuốc, càng sớm càng tốt     

 


 

 

 

 

 

Viết đánh giá

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu            Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: